Sử dụng thức ăn nhân tạo trong sản xuất giống cua biển (Scylla Paramamosain)

Cua biển là đối tượng hải sản có giá trị kinh tế cao, thịt ngon, nhu cầu thị trường lớn và được nuôi phổ biến ở nước ta, đặt biệt là ở các tỉnh ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long. Các mô hình nuôi cua ngày càng đa dạng hơn như nuôi kết hợp: cua – tôm – rừng, cua – tôm, nuôi chuyên cua, nuôi cua gạch và nuôi cua lột. Từ đó cho thấy diện tích và sản lượng nuôi cua thịt tăng lên đáng kể, để đáp ứng cho nghề nuôi thì nhu cầu con giống cũng tăng lên. Trong những năm trước đây nghề nuôi cua còn phụ thuộc vào con giống tự nhiên, thì hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào con giống nhân tạo. Kỹ thuật sản xuất giống cua cũng có những bước tiến đáng kể, trong những năm 2000 tỷ lệ sống đến cua 1 chỉ đạt từ 2-3% thì hiện nay đã tăng đến 15%. Theo Trần Ngọc Hải và ctv (2017) Đồng bằng Sông Cửu Long có 480 cơ sở sản xuất giống và 460 cơ sở ương cua giống để cung cấp cho nghề nuôi.

Theo Heasman và Fielder, (1983); Hamasaki, (2003); Ruscoe, (2004) thì Rotifers và Artemia là thức ăn quan trọng của ấu trùng cua biển trong sản xuất giống. Ở giai đoạn Zoea1 sử dụng rotifer cho tỷ lệ sống và tăng trưởng tốt hơn chỉ sử dụng Artemia. Trong khi nếu chỉ sử dụng Artemia từ giai đọan zoae1 đến cuối không có rotifer thì kết quả tỷ lệ sống thấp hơn và thời gian ương dài hơn (Ruscoe, 2004; Baylon, 2009; Takeuch, 2002). Dinh dưỡng artemia và rotifer phụ thuộc vào nguồn gốc, tuổi và kỹ thuật nuôi (Sorgeloos et al., 1986; Tucker, 1992). Artemia và Rotifer là nền tản cơ bản để sản xuất giống cua biển, tuy nhiên thức ăn tươi sống chưa đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu cho ấu trùng cua biển (Southgate và Partridge, 1998). Ấu trùng cua biển có thể ăn thức ăn viên kích cỡ nhỏ (Genodepa, 2004).

Theo Zeng (2004), kích thước thức ăn viên có xu hướng gia tăng theo mức độ phát triển của ấu trùng. Ở nghiên cứu này tác giả sử dụng 05 nhóm kích cỡ thức ăn (< 150 µm cho Zoea1 – Zoea2, 150 – 250 µm cho Zoea 3, 250 – 400 µm cho Zoea 4 đến Zoea 5, 400 – 600 µm cho Megalopa và 600 – 800 µm cho cua con).

Kết quả cho thấy thức ăn có kích thước nhỏ hơn 150 µm thì ấu trùng Zoea1 sử dụng tốt hơn thức ăn có kích thước 150 – 250 µm; giai đoạn Zoea3 sử dụng tốt thức ăn có kích cỡ 150 – 250 µm; với giai đoạn Zoea5 ấu trùng sử dụng thức ăn có kích cỡ 250 – 400 µm; ở giai đoạn Megalopa thức ăn phù hợp có kích cỡ từ 400 – 600 µm và cua con từ 600 – 800 µm. Trần Ngọc Hải và ctv (2017) đánh giá khả năng thay thế artemia bằng thức ăn nhân tạo cho thấy mỗi ngày cho ăn 3 lần thức ăn nhân tạo và 5 lần artemia cho kết quả tốt nhất. Kết quả khảo sát các trại sản xuất giống cua ở Cà Mau, Kiên Giang và Bạc Liêu gần đây hầu như tất cả các trại sản xuất giống đã sử dụng thức ăn nhân tạo và artemia để sản xuất giống cua biển.

Qua kết quả khảo sát gần đây thức ăn nhân tạo có chất lượng tốt được sử dụng phổ biến trên thị trường hiện nay là Larviva PL200, Larviva PL300, Larviva PL400, Larviva nursery 0.5 (Biochain), ưu điểm của thức ăn này là có hàm lượng đạm dễ tiêu hóa rất cao từ 50 – 61%, có vi khuẩn Bactocell tạo a xít hữu cơ có chức năng kháng bệnh và cải thiện sức khỏe đường ruột tôm giai đoạn nhỏ, có 3 loại nấm men đa chủng B-WYSETM sản sinh ra betaglucan có tác dụng tăng cường sức đề kháng tôm, công nghệ sản xuất viên thức ăn tiên tiến (vi bọc, ép đùn, sấy lạnh) dinh dưỡng trong thức ăn được giữ gìn trọn vẹn, giúp sạch nước, đặt biệt là kích cở viên thức ăn khác nhau phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của ấu trùng cua như từ giai đoạn Zoea2 đến giai đoạn Zoea 3 cho ăn Larviva PL200, giai đoạn Zoea4 đến giai đoạn Zoea 5 cho ăn Larviva PL300, giai đoạn Megalopa cho ăn Larviva PL400 và cua 1 đến cua 2 cho ăn Larviva nursery 0.5.

Phó giáo sư, tiến sĩ: Châu Tài Tảo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

schoolgirl pussy